•  
Đang xem: Trang chủ Giới thiệu Dân số - sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình

Dân số - sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình

Email In PDF.

Sức khoẻ sinh sản – kế hoạch hoá gia đình là một trong 8 nội dung của dân số và phát triển, là vấn đề quan tâm hàng đầu của thế kỷ 20 trên toàn thế giới.

Giáo sư, Viện sỹ Phạm Song

Bài 1: Khái niệm tổng quát

Phải đến tháng 6/1972 tại Stockholm (Thuỵ Điển) mới có hội nghị đầu tiên về dân số và phát triển và có 116 nước tham dự. Hội nghị thượng đỉnh này đã đưa ra khái niệm tổng thể liên quan giữa dân số – kế hoạch hoá gia đình – môi trường và phát triển, nói ngắn lại là dân số và phát triển. Tám năm sau, năm 1990, Quỹ môi trường của Liên hợp quốc (UNEF) đưa ra khái niệm phát triển bền vững nhấn mạnh sự hài hoà giữa dân số, môi trường và phát triển bền vững.

GS. Phạm Song Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam và TS. Nguyễn Quốc Triệu, Bộ trưởng Bộ Y tế trong buổi giao ban ngày 18/11/2008 giữa lãnh đạo Bộ và Thường vụ BCH Tổng hội. Ảnh: Anh Hoàng


Khái niệm tổng thể có thể hình dung dưới dạng một tam giác cân : Đỉnh là phát triển, 2 cạnh là dân số, môi trường, đáy là bền vững.

Bài này chỉ nói về sức khoẻ sinh sản- kế hoạch hoá gia đình dưới góc độ các dịch vụ.

Y học là ngành khoa học về sức khoẻ con người, nên khó tách rời y học, y tế với các vấn đề xã hội, do vậy trong một phạm vi nhất định cũng phải đề cập đến vấn đề xã hội, nếu không sẽ không phản ánh được các giải pháp về vấn đề sức khoẻ con người và ở đây là sức khoẻ sinh sản.

Vì sao khái niệm kế hoạch hoá gia đình lại mở rộng sang sức khoẻ sinh sản.

Phải trải qua 6 lần Hội nghị toàn thế giới về Dân số kế hoạch hoá gia đình mới dẫn đến khái nhiệm nói trên.

 Lần thứ nhất ở Rome (Italia), năm 1954 chủ yếu là vấn đề khoa học kỹ thuật về kế hoạch hoá gia đình

Lần thứ hai ở Belgrade (Nam Tư), năm 1962 cũng chỉ mới mở rộng và đi sâu hơn về kỹ thuật.

Lần thứ ba ở Bucarest (Rumani), năm 1974 đã có 138 chính phủ tham dự và đặt nền móng cơ bản là Quyền tự quyết của mỗi nước về vấn đề kế hoạch hoá gia đình phù hợp với chính trị, văn hoá, xã hội của họ. Quyền tự do của các cặp vợ chồng và cá nhân về quyết định số con và khoảng cách giữa các con.

Hai nguyên lý này là khá cơ bản cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị.

Lần thứ tư ở Mexico, năm 1984, có 146 chính phủ tham dự. Lần này vai trò của các Tổ chức phi chính phủ đã được đề cập đến và vai trò của phụ nữ, cũng như tổ chức của họ được đặt lên vị trí đặc biệt.

Vấn đề trẻ em chết trước 1 tuổi cũng đã được đề cập, cũng như việc nạo phá thai còn là vấn đề phải được sự đồng thuận, nhưng cho phép hay không là vấn đề chưa thống nhất được.

Lần thứ năm, năm 1989 là một diễn đàn về dân số thế giới, tổ chức tại Amterdam (Hà Lan) và ra tuyên bố “Một cuộc sống tốt đẹp hơn cho thế hệ tương lai”, trong đó khuyến cáo vấn đề kế hoạch hoá gia đình là một biện pháp quan trọng.

Lần thứ sáu tại Cairo (Ai Cập) năm 1994, thực sự là bước ngoặt và Hội nghị chính thức mang tên Hội nghị thế giới Dân số và phát triển (ICPD) và chính thức đưa kế hoạch hoá gia đình chỉ là một trong nội dung của sức khoẻ sinh sản. Lần thứ bảy tại The Hague, kiểm điểm tại Hội nghị Cairo 94 và ký hiệu ICPD+5 nghĩa là sau Hội nghị Cairo 5 năm.

Định hướng cần mở rộng như vậy là vì kế hoạch hoá gia đình chỉ tập trung vào độ tuổi sinh sản 15 – 49, còn sức khoẻ sinh sản là chăm lo theo vòng đời của con người: khi còn là thai nhi đến tuổi dậy thì, tuổi sinh sản và sau tuổi sinh sản.

Tiếp cận như vậy là hướng về chất lượng nguồn lực con người, tạo ra thế vững chắc, tự giác, tự quyết định vấn đề kế hoạch hoá gia đình. Chăm lo sức khoẻ sinh sản không chỉ tập trung vào chăm lo cấu trúc và chức năng của hệ thống sinh sản mà còn chăm lo tác động đến xã hội để quyền sinh sản của con người được đảm bảo tối đa về sự an toàn của hệ thống sinh sản, có môi trường thuận lợi cho việc đảm bảo quyền sinh sản được thể chế hoá bằng chính sách và luật pháp và thống nhất nhận thức của xã hội về vấn đề này theo đúng nghĩa về sức khoẻ sinh sản. Yếu tố thể chất về cấu trúc và chức năng của hệ thống sinh sản, yếu tố tâm lý, tinh thần, yếu tố xã hội. Cách tiếp cận chăm sóc sức khoẻ hiện đại nhất là chăm sóc sức khoẻ sinh sản theo vòng đời và quyền sinh sản của con người.

Chăm sóc sức khoẻ sinh sản bao gồm cả nam và nữ ở các nước đã phát triển có chỉ số phát triển con người cao (HDI), nhưng ở các nước đang phát triển thì mới có đủ nguồn lực chăm lo cụ thể đến nữ giới.

Cơ quan dân số phát triển của Liên hợp quốc đã phát động một chương trình hành động sức khoẻ sinh sản cho mọi người đến năm 2015 như Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khởi xướng chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho mọi người từ thập kỷ 80 và các nhà hoạch định chính sách của mọi quốc gia đều gắn việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản với chăm sóc sức khoẻ ban đầu.

Nội dung cụ thể chăm sóc sức khoẻ sinh sản là những vấn đề gì ?

   1. Làm mẹ an toàn (trước, trong, sau khi đẻ, giảm chết chu sinh – sơ sinh).
   2. Kế hoạch hoá gia đình.
   3. Giảm nạo phá thai ngoài ý muốn và nạo phá thai an toàn.
   4. Sức khoẻ sinh sản, tình dục của thanh niên.
   5. Hạn chế các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, trong đó có HIV/AIDS
   6. Giúp đỡ các cặp vô sinh, cá nhân vô sinh
   7. Phát hiện sớm ung thư vú và đường sinh dục
   8. Giáo dục truyền thông về sức khoẻ sinh sản và các thói quen có hại cho sức khoẻ sinh sản như thuốc lá, rượu, chống bạo lực gia đình và trong tình dục, loại bỏ tập quán cắt bỏ âm vật phụ nữ.

Cần thêm một nội dung nữa, đó là tiến tới giảm thiểu các thai nhi bị dị vật bẩm sinh.

(Còn nữa)

Những nguyên tác xử lý kỹ thuật và giải pháp tổ chức, chính sách về chăm sóc sức khoẻ sinh sản theo vòng đời và quyền sinh sản.